Thứ Sáu, 05/07/2013

Tiếng kèn, bếp lửa, rừng già

PiNao… Bon nghệ sĩ

Trên địa bàn huyện Đăk R’Lấp của tỉnh Đắk Nông là vùng đất còn lưu giữ  nhiều di sản văn hóa phi vật thể quý giá và phong phú của đồng bào M’ Nông. Những trường ca, truyện cổ, luật tục, kho tàng sử thi đã được truyền khẩu và ghi chép lại. Nhiều di chỉ, di vật khảo cổ có giá trị như các bộ cồng chiêng cổ, các công cụ đá, bộ trang sức bằng đá của người tiền sử được phát hiện ở Đắk R’tik (nay thuộc huyện Tuy Đức), Kiến Đức. Đặc biệt là bộ Goong Lú (đàn đá) ở bon Bù Bỉ - Quảng Tín. Vì thế, Đăk R’ Lấp được xem là vùng đất giàu bản sắc văn hóa nam Tây nguyên. Đoàn văn nghệ của Huyện thường được tỉnh Đắk Nông đưa đi biểu diễn giao lưu với các tỉnh thành, trung ương và nước ngoài nhằm quảng bá nền văn hóa giàu bản sắc của bản địa. Năm 2012, bon PiNao xã Nhân Đạo lại được đại diện nghệ nhân của tỉnh tham dự  Ngày hội văn hóa các dân tộc Tây nguyên tổ chức tại Hà Nội, tham dự biểu diễn nghệ thuật tại Đan Mạch do Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch và Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh chọn tham dự biểu diễn. Đặc biệt, ở bon PiNao còn có nghệ nhân Y Krang tài hoa đã gần 100 tuổi biết chế tác được nhiều nhạc cụ.

Những thông tin văn tắt trên đã theo suốt trong tâm trí tôi trong những ngày lang thang qua những vùng núi đồi ở Đăk Nông, cứ lóng ngóng để tìm mọi cách phải một lần về nơi vùng đất còn chứa đựng biết bao sử thi xưa cũ. Và nhất là đối với người nghệ nhân đã bách niên dâu bể giữa rừng già đang sở hữu một thứ tài nguyên văn hóa nghệ thuật vô cùng quý giá, mà dễ gì lần sau trở lại Đăk Nông có cơ may gặp lại.
Và cơ hội rồi cũng đến, mấy ngày cuối trước khi chia tay với xứ của ngàn thông, tôi về Đăk R’Lấp. Anh  Trần Hồng Sơn, Phó Bí thư Huyện ủy khi biết được mong muốn của tôi đã nhiệt tình đưa đi thẳng một mạch vào ngay bon PiNao. Bon PiNao cách trung tâm xã Nhân Đạo 13km. Đường về bon đẹp ngẩn ngơ, tuyệt vời bởi hai bên là những hàng thông cao vút trải dài bên nương đồi, có cảm tưởng như đó là một góc của Đà Lạt thu nhỏ. Anh Chủ tịch xã Nhân Đạo ngồi bên thì thầm: Bon PiNao có 82 hộ dân với 380 nhân khẩu phần lớn là hộ nghèo, so với toàn xã Nhân Đạo thì bon PiNao nghèo nhất, nhưng phong trào văn nghệ thì rất đáng biểu dương, năm nào hội diễn văn nghệ toàn tỉnh cũng đạt thứ hạng cao, được tỉnh chọn đi giao lưu với tỉnh bạn và nước ngoài. Anh nhấn mạnh: Bon nghệ sĩ mà anh… Anh bạn ngồi bên đế thêm: Đúng rồi, đã là bon nghệ sĩ làm sao mà giàu có được…

Tôi chỉ ngồi nghe chứ không trả lời, nhưng thầm nghĩ trong đầu: Nhưng đó là một bon giàu có nhất tỉnh mà giá trị không thể tính bằng vật chất, đó là sự giàu có về văn hóa, về nghệ thuật truyền thống giàu tính bản địa mà không phải ai muốn cũng được. Anh Sơn như biết được sự ái ngại của tôi:  “Chúng tôi luôn hỗ trợ và xây dựng cho đội văn nghệ PiNao, con em trong đội vẫn thường xuyên tập luyện, được bồi dưỡng hẳn hoi. Để bảo tồn, giữ gìn văn hóa truyền thống của đồng bào, huyện động viên các thành viên văn nghệ trong thôn đến những nghệ nhân già học hỏi, kẻo mai này không có ai để kế thừa lưu giữ… và nói thật, lĩnh vực văn hóa, văn nghệ cũng là một thế mạnh của huyện nhà”.  Ngừng một lát, anh Sơn cho biết thêm: “ Cuối năm 2012, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Đăk Nông phối hợp với Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Ðác R’lấp cũng đã tổ chức lớp chế tác nhạc cụ cho thanh niên dân tộc thiểu số tại chỗ. 20 học viên từ các buôn, bon thuộc các xã Nghĩa Thắng, Nhân Cơ, Nhân Ðạo và thị trấn Kiến Ðức của huyện Đác R’lấp đã tham gia lớp học này.  Các học viên được các nghệ nhân truyền dạy các kỹ thuật chế tác các nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc M’Nông như khèn, sáo, m’buốt… từ các nguyên liệu như trúc, tre, nứa, lồ ô… Sau thời gian học tập, mỗi học viên đều chế tác được hai nhạc cụ trở lên. Lớp học nhằm giúp thanh niên đồng bào dân tộc M’nông gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại. Đây là lớp học thuộc “Ðề án bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lễ hội, cồng chiêng và nhạc cụ của các dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2011 - 2015” do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Đăk Nông triển khai…”.

Tiếng kèn và bếp lửa

“Huyện cũng cất nhắc hỗ trợ cho già Y Krang, một nghệ nhân nổi tiếng của tỉnh nhà vì đó là vốn quý để bảo tồn và phát triển văn hóa đồng bào dân tộc” - Anh Sơn nói tiếp và dẫn tôi đến nhà người nghệ sĩ trăm tuổi này. Nghệ nhân Y Krang đang nằm trên một chiếc giường thấp trong một căn nhà gỗ, nền đất khá toềnh toàng, chung quanh treo một vài cái bằng khen và một gói đồ chứa đựng các nhạc cụ của ông, giữa nhà là bếp lửa vẫn còn âm ỉ đỏ lửa. Hình như sợ tôi không hiểu, anh Sơn  giải thích: “Chính quyền đã hỗ trợ xây nhà cho ông, nhà ngay bên cạnh nhưng ông lại nhường cho con gái ở còn ông vẫn cứ bám lấy ngôi nhà ọp ẹp này, động viên mấy cũng cứ ở đây”. Nhà văn Thái Bá Lợi đứng cạnh, chỉ vào bếp lửa và nói tiếp: “Đơn giản chỉ vì ông không thể xa rời cái bếp lửa! Mà nhà bê tông lót gạch làm sao có bếp lửa giữa nhà.”



Với những già làng của hầu hết các dân tộc ở Tây Nguyên, bếp lửa đã thấm vào máu thịt của họ, khó có thể rời xa, bởi vì đó là cuộc sống, là linh hồn, là văn hóa. Mọi tiện nghi vật chất cũng khó thể thay thế.  Có thể nói, trước khi tên tuổi của các nhân vật sử thi như Đam San, Xinh Nhã, Khing Dú, Dam Bi..đến với chúng ta thì người bản địa Tây nguyên nói chung, từ đời nọ qua đời kia, đã sống cùng câu chuyện huyền thoại của họ bên bếp lửa.Tôi nhớ có một câu chuyện về anh hùng Núp do một nhà văn kể lại: Thời ông ở Hà Nội, mắt cứ bị mờ đi, được đưa đi chữa ở một bệnh viện mắt có nhiều bác sĩ, chuyên gia giỏi nhưng vẫn không hết bệnh. Cuối cùng, anh hùng Núp lên Điện Biên, ngày ngày được ở bên bếp lửa thì mắt của người anh hùng dần sáng trở lại. Nghệ nhân Y Krang cũng thuộc về cái lớp người mà hình ảnh và hơi ấm của bếp lửa luôn vương vấn trong lòng, nó như một sự ràng buộc êm ái, gần gũi khó thể chia lìa. Có người nói rằng ông Y Krang là nghệ nhân sau cùng còn kể được đúng thể  về sử thi huyền thoại, những bộ sử thi được các nhà dân tộc học đánh giá là dài nhất các nước Đông Nam Á. Có lẽ từ những câu chuyện kể bên bếp lửa Tây nguyên mà năm 1929, Lêôpon Xabachiê đã sưu tầm được trường ca Đam San và đem công bố chữ viết với thế giới bên ngoài. Và đối với già Y Krang, hơi ấm của bếp lửa đã thổi bùng cảm xúc để già cất cao tiếng kèn của dân tộc mình.

Dù đã gần 100 tuổi, đôi chân gầy tóp và cong lên, xoay trở khá khó khăn, duy chỉ đôi mắt và nụ cười của Y Krang vẫn ngây ngô như trẻ thơ, thấy khách đến là ngồi dậy chào hỏi và vui mừng lắm - “Già có vui không?”. “Vui, vui lắm”. “Vừa rồi sao già không đi nước ngoài?”. “Đau chân, không đi được”. Mấy đối đáp “sơ ngộ” đã sớm giúp tôi nhận ra cái tính cách phóng khoáng rừng núi nơi ông. Ông có dáng hình cao, gầy, đôi tay dài ngoẵng, khi ngồi đầu gối chõng cao hơn đầu người dáng như một sơn nhân giữa rừng già.

Y Krang là người M’ Nông, sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, ông cha từng là nghệ nhân trong làng nên Y Krang đã mang sẵn trong người lòng say mê âm nhạc, thuở nhỏ đã lang bạt qua tận bên Hồ Lăk, bên Lâm Đồng, lân la với các nghệ nhân khắp các buôn làng, cứ có lễ hội ở đâu là nhào tới say sưa nhảy múa, hòa quyện theo nhịp cồng chiêng suốt cả đêm… Ông từng đến nhiều buôn làng để sưu tầm và ghi lại những hiểu biết về các nhạc cụ truyền thống của người M’Nông. Trở về Đăk R’Lắp, Y Krang tự mày mò rồi chế tác dụng cụ đủ các loại kèn của người M’ Nông. Ban đầu, việc chế tác vẫn chưa hoàn thiện nhưng dần dà mày mò mãi, hơn nữa sẵn có năng khiếu về âm nhạc nên những dụng cụ được già chế tác ngày càng hoàn thiện, chuẩn xác hơn, khi sử dụng chuyển tải được cái hồn cốt của nền âm nhạc cổ truyền M’Nông. Không những thế, già còn sử dụng tới 7 loại nhạc cụ dân tộc do mình tự phục chế một cách khá thành thạo như: Mlos, Nung, Buk, Rlet, Rtông, N’hôm, Mbuăt… Thật khó mà tưởng tượng nổi ở một con người từng sống hết cuộc đời với âm nhạc, già đã bỏ gần 30 năm lặn lội trong rừng sâu tìm đủ loại ống tre, ống trúc, bầu khô, sừng trâu để về ngồi chế tác các loại kèn, rồi phải tự thẩm âm, làm việc đơn độc, âm thầm giữa rừng già để cho ra được những dụng cụ âm nhạc đúng với nguyên gốc. Phải có một tình yêu tha thiết đến cạn cùng sức lực với những giai điệu của dân tộc mình mới làm được điều đó. Y Krang thuộc loại nghệ sĩ thiên phú,  chỉ cần hà hơi vào kèn là trở thành giai điệu, trở thành âm vang  mang những tình tự đắm say, niềm khao khát tự do của người M’Nông.

Tiếng kèn của già Y Krang đã từng được mọi người hết sức khâm phục bởi sự độc đáo của giai điệu mang bản sắc của nền văn hóa M’Nông nam Tây nguyên, nhất là những nhạc cụ do chính nghệ nhân Y Krang chế tác. Ở đâu có tổ chức lễ hội văn hóa dân tộc Tây Nguyên thì ít khi thiếu vắng sự xuất hiện của già. Mấy chục năm cầm kèn đi biểu diễn khắp nước: Kontum, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Gia Lai, Đăklăk… giờ đây về sống ở bon, ngày ngày vẫn tự nấu cơm ăn một mình. Nhiều đêm trăn trở không ngủ được, như sực nhớ một kỷ niệm u hoài trong ký ức xa thẳm, bên bếp lửa, ông đem kèn ra thổi. Tuổi đã già không còn sung mãn như thuở thanh xuân nhưng tiếng kèn vẫn đồng vọng một nỗi niềm như một huyền sử mênh mang, sâu thẳm. Tiếng kèn ấy như một lời nhắn gửi thiết tha và day dứt về mong ước nền âm nhạc của dân tộc được những thế hệ đời sau lưu truyền gìn giữ.

Y Krang là một nghệ sĩ đích thực, mang một khí chất của dân tộc M’Nông – ngoan cường, không dễ gì khuất phục, tâm hồn đầy phóng khoáng như ngọn gió bay rào rạt trên nương đồi mênh mông của cao nguyên. Nhớ lại lời của Nhà biên kịch Đoàn Huy Giao sáu năm trước: “nghệ nhân Y Krang cũng đã từng biểu diễn cho đoàn làm phim xem ông biểu diễn chơi trò quay diều gió, một trò chơi hồn nhiên  khá cổ sơ; Già hát và kể rất nhiều về các sự tích anh hùng, trộn lẫn giữa huyền thoại và hiện thực của xứ sở còn nhiều bí ẩn này và tình tự trai gái hết sức lãng mạn : Con nai chớ có húc nhau. Con hổ chớ có cắn nhau. Ước gì được hôn lên trán anh. Ước gì được hôn lên má anh. Ước gì chúng mình được ngủ chung”… Thời còn khỏe, Y Krang với mấy chiếc kèn trên tay lang bạt qua nhiều bon làng đến nổi có khi quên cả đường về. Ông như một nghệ sĩ hát rong giữa miền sơn cước, lãng du xuyên qua những cánh rừng chỉ với một niềm vui là được thổi lên những giai điệu ngọt ngào của dân tộc mình. Ông từng thuộc nhiều bản nhạc cổ như các bài Kek rling (chim chèo bẻo kêu), Tarah rling (chim chèo hót dài), Nau kring (chim kring), Nau Chă nghêt (rủ nhau uống rượu), Nau tăp rưng phan (thổi về nỗi buồn), Mbuăt (thổi trước tiếng kèn Mbuăt), Ting nau tur cing (thổi dạo trước bài chiêng)…

Tôi mở trong cái bao treo ở đầu giường, đó là gia tài gồm những nhạc cụ do Y Krang chế tác và sử dụng. Tôi trân trọng  xếp lên trên một tấm vải dày màu đỏ thêu từng sọc hoa văn của người M’Nông. Chúng cũ kỹ, sờn sướt thể như những dụng cụ được lấy ra từ cổ tích, ẩn chứa sâu thẳm như sự im lặng ngàn đời của đại ngàn. Những nhạc cụ nhỏ nhắn cở chiếc kèn harmonica, mà chao ôi, cầm trên tay thật nặng lòng, cái sức nặng của cả một đời người dài cả thế kỷ đã trầm luân dâu bể để dồn hết tâm sức vào đó. Cả một kho tàng về những sử thi, những điệu múa và nền âm nhạc đại ngàn vùng nam Tây Nguyên mãi còn tàng giữ trong con người tài hoa nghệ sĩ sắp bước vào trăm tuổi. Lòng chợt bâng khuâng, mai mốt đây, biết còn ai để tiếp truyền, lưu giữ và bảo tồn những giá trị truyền thống văn hóa hết sức mong manh này…
- Già có bày cho ai không?
- Có, có… nhưng ít người lắm.
- Già nhớ nghe, gắng bày cho tụi nhỏ.
Ừ, Ừ... Già Y Krang gục gục và cười rất thoải mái. Anh trưởng thôn Y Lanh đứng bên nói chen vào: “Ai học ông cũng bày hết, siêng lắm, ông bày ở nhà, rồi ở nhà văn hóa cộng đồng. Ở thôn có Y Sinh là theo học suốt, nhưng mấy đứa nhỏ học hay quên lắm…”

Trên đường về, tôi cứ bị ray rứt bởi câu nói  của anh trưởng thôn: “…học mà hay quên lắm”. Vâng, vậy thì làm sao để nhớ được lâu, nhớ đến tận gan ruột. Y Lanh nói : “Khó lắm, vì thanh niên bây giờ thích đàn điện, thích nhảy nhót, hơn là mấy cái này”. Anh bạn nhà văn mới nói cho cả đoàn  nghe để cùng chia sẻ: “Phải tìm ra những thanh niên tâm huyết, mình nghĩ là khó nhưng chịu khó tìm là được, không hẳn là chuyện đãi ngộ vật chất đâu”. Nỗi lo rồi mai này lớp người như nghệ nhân Y Krang không còn nữa thì lớp kế cận có còn lưu giữ được những gì thuộc về báu vật của cha ông vẫn luôn ám ảnh đối với những ai còn tha thiết với nền văn hóa truyền thống của Tây Nguyên.

 Hình ảnh Y Krang ngồi bên bếp lửa cứ ẩn hiện trong lòng tôi. Cuộc sống cứ luôn lao về phía trước, biết làm sao được mà nói chuyện mất còn. Tôi nhớ lời của một anh bạn ở Đăklăk từng nghiên cứu nhiều năm về âm nhạc truyền thống Tây Nguyên: “Cần có một chính sách hỗ trợ thiết thực cho những nghệ nhân cao niên để động viên họ truyền lại những tinh hoa, tinh túy của nền âm nhạc dân tộc cho thế hệ tiếp nối, còn không thì… Muốn thế phải có một cơ chế, thiết chế chủ trương cụ thể, các ban ngành phải phối hợp đồng bộ để triển khai hiệu quả, nhưng cũng thật khó…”. Anh bỏ lửng câu nói nửa chừng, như thể đó là câu chuyện còn phải bàn lại nhiều lắm. 

Tiếng kèn Y Krang thổi bên bếp lửa trong buổi đầu gặp mặt, tôi nghe suốt cuộc hành trình về xuôi trong tâm tưởng như một lời chia tay, cứ nhớ mãi cái bắt tay lắc lắc rất mạnh của một nghệ nhân đã đi qua thế kỷ ngồi bên bếp lửa. Nghệ nhân Điểu Kâu nổi tiếng của cao nguyên M’nông – mà bất kỳ một công trình nghiên cứu dân tộc học về Tây nguyên điều phải nhắc đến đã ra đi, còn lại Y Krang đang đứng trước cái giới hạn của vòng tử sinh, không biết ngày trở lại Đăk Nông có gặp ông không, rồi bâng khuâng chợt nhớ lời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: Cái bắt tay thân ái nào cũng có thể là bắt tay cuối cùng.

Hồ Sĩ Bình